TẠP CHÍ TRI THỨC XANH - CƠ QUAN LÝ LUẬN CỦA VIỆN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

E-mail:info@ttxonline.vn -  Hotline: 0948565689
thứ hai, 18/10/2021

Ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và hành vi đầu tư kinh doanh bị cấm theo luật đầu tư năm 2020

00:46 13/08/2021
Logo header Việc xác định ngành, nghề đầu tư kinh doanh bị cấm luôn là vấn đề được các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước quan tâm. Sau quá trình thu thập ý kiến và thảo luận tại Quốc hội, Luật Đầu tư năm 2020 đã được Quốc hội thông qua, trong đó đã bổ sung một ngành, nghề vào danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đó là ngành, nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ (thường được gọi là “đòi nợ thuê”).

Trước khi Luật Đầu tư năm 2020 được thông qua, đã có nhiều ý kiến trái chiều giữa các chuyên gia và cả trong các đại biểu Quốc hội về việc có nên cấm ngành, nghề đầu tư kinh doanh này hay không do quan điểm đánh giá tác động của nó đối với xã hội chưa đạt được sự thống nhất.

Thật ra, hầu như ai cũng hiểu rằng bản thân dịch vụ đòi nợ thuê không gây nguy hại cho xã hội nhưng điều mà nhiều người lo lắng chính là sự biến tướng của nó, hay nói một cách chính xác, là sự lợi dụng việc đăng ký kinh doanh ngành, nghề này để tiến hành các hoạt động đòi nợ bằng các biện pháp trái pháp luật, mà trong đó nguy hại và phổ biến nhất là hành vi cưỡng đoạt tài sản của người bị cho là mắc nợ.

Trong thực tế đã xuất hiện nhiều tổ chức, cá nhân hành nghề dịch vụ đòi nợ thuê không hiểu hoặc cố ý không hiểu hai nguyên tắc cơ bản mà pháp luật đã quy định đối với các tổ chức, cá nhân khi giải quyết nợ, tức là giải quyết mối quan hệ quyền và nghĩa vụ tài sản với nhau.

Nguyên tắc thứ nhất, để giải quyết nợ, vấn đề cần phải giải quyết trước tiên là xác định xác định khoản nợ, tức là xác định nghĩa vụ tài sản của một bên đối với bên kia. Trường hợp các bên liên quan không thống nhất ý kiến hoặc thống nhất ý kiến nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tức là đã phát sinh tranh chấp, thì vụ việc phải được đưa ra Tòa án hoặc Trọng tài để phân xử. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều chủ nợ và người đòi nợ thuê đã làm thay Tòa án, Trọng tài.

Nguyên tắc thứ hai, trường hợp đã xác định được nghĩa vụ trả nợ theo phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc Trọng tài mà người mắc nợ vẫn không tự giác thi hành nghĩa vụ thì chủ nợ muốn thu hồi nợ phải có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành thủ tục cưỡng chế thi hành án. Đáng tiếc là trong thực tiễn, nhiều chủ nợ và người đòi nợ thuê đã làm thay cơ quan thi hành án.

Và tất nhiên, một tổ chức, cá nhân không có chức năng hoặc thẩm quyền cưỡng chế mà lại áp dụng các biện pháp cưỡng bức người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản thì hành động đó sẽ bị coi là hành vi cưỡng đọat hoặc cướp tài sản của người khác, một tội danh trong Bộ luật Hình sự. Vấn đề đặt ra ở đây là vì sao luật đã có chế tài hình sự đối với hoạt động cưỡng đọat tài sản núp bóng hoạt động đòi nợ thuê mà hiện tượng núp bóng đó vẫn ngang nhiên xảy ra ở nhiều nơi, đe dọa trật tư an toàn xã hội và Quốc hội không còn cách nào khác là phải chấp thuận bổ sung ngành, nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ vào danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 của Luật Đầu tư năm 2020. Có phải vì chế tài hình sự chưa đủ sức răn đe hay việc phát hiện và xử lý hành vi phạm pháp này có gặp những khó khăn nào đó?

Theo tìm hiểu thì có lẽ không phải do luật không có chế tài hoặc chế tài không đủ mạnh mà là do các tổ chức, cá nhân hành nghề dịch vụ đòi nơ thuê chuyên nghiệp thường có đủ kinh nghiệm sử dụng những biện pháp đủ mạnh bạo để uy hiếp tinh thần của người bị cho là con nợ, buộc họ hoặc người thân của họ phải giao tài sản ngoài ý muốn của mình nhưng cũng đủ tinh vi để các cơ quan tố tụng không đủ chứng cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đọat tài sản. Mặt khác, chế tài hành chính cũng không thể áp dụng ở đây vì hoạt động dịch vụ của họ được đăng ký kinh doanh hợp pháp. Thêm vào đó là tâm lý e ngại của người mắc nợ, họ ít khi dám tố giác hành vi cưỡng đoạt tài sản của các tổ chức, cá nhân hành nghề dịch vụ đòi nợ thuê do lo sợ bị trả thù.

Có lẽ vì những khó khăn nói trên mà các cơ quan quản lý đã buộc phải đề xuất và Quốc hội đã chấp thuận thông qua giải pháp cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ bằng Luật Đầu tư năm 2020, một giải pháp được cho là hiệu quả nhất hiện nay để ngăn chặn, hạn chế tình trạng hoạt động cưỡng đọat tài sản núp bóng hoạt động đòi nợ thuê. Như vậy là từ một ngành, nghề vô hại, dịch vụ đòi nợ đã trở thành một ngành, nghề bị cấm do đã bị nhiều người lợi dụng để tiến hành các hoạt động phi pháp mà các cơ quan quản lý và cơ quan tư pháp không có cách nào khác để ngăn chặn.

Một vấn đề khác trong lĩnh vực đầu tư cũng được các nhà đầu tư và cả các cơ quan giải quyết tranh chấp như Tòa án, Trọng tài quan tâm, là việc xác định các hành vi đầu tư kinh doanh bị cấm. Thông thường trong các luật chuyên ngành được ban hành thời gian gần đây, ở phần những quy định chung sẽ có một điều khoản quy định về những hành vi bị cấm trong lĩnh vực mà luật đó điều chỉnh. Đây là một xu hướng tiến bộ nhằm minh bạch hóa hệ thống pháp luật nước nhà. Tuy nhiên, riêng Luật Đầu tư năm 2020 (cũng như các Luật Đầu tư trước đây) thì lại hoàn toàn không có một điều luật nào như thế, ngoại trừ Điều 6 quy định về danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh. Việc thiếu một điều luật như thế sẽ gây khó khăn, lúng túng cho các nhà đầu tư và các cơ quan tài phán khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư mà trong đó việc thực hiện hợp đồng sẽ trái với quy định của Luật Đầu tư nhưng không vi phạm điều cấm của luật khác và cũng không thuộc trường hợp quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020.

Một ví dụ rất dễ gặp trong thực tiễn mà thực tế Tòa án cũng đã từng thụ lý, giải quyết là trường hợp tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) mà trong đó ít nhất có một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2020 nhưng các bên chưa thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Đầu tư năm 2020. Giả sử trong vụ tranh chấp này, một bên có yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và/hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc trả tiền phạt do vi phạm hợp đồng thì Tòa án hoặc Trọng tài sẽ giải quyết như thế nào, có chấp nhận yêu cầu này hay không trong khi dự án đầu tư nói trên chưa được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền mà lẽ ra nó phải được đăng ký theo quy định của Luật Đầu tư trước khi triển khai thực hiện?

Do Luật Đầu tư năm 2020 không có điều luật nào quy định cấm thực hiện dự án đầu tư trong trường hợp luật quy định phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng nhà đầu tư chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nên cơ quan tài phán không thể bác yêu cầu thực hiện hợp đồng với lý do việc thực hiện hợp đồng này vi phạm điều cấm của luật được.

Trước đây, theo Điều 55 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Đầu tư năm 2005, hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Nếu căn cứ vào quy định này thì cơ quan tài phán có thể không chấp nhận yêu cầu thực hiện hợp đồng với lý do hợp đồng đó chưa có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Điều đó cũng phù hợp với Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định hiệu lực của hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Tuy nhiên, giả sử Nghị định của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư năm 2020 hoặc một văn bản dưới luật khác có quy định tương tự như Nghị định số 108/2006/NĐ-CP nói trên thì việc áp dụng quy định này đến nay cũng không còn phù hợp vì Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có quy định (khác với quy định tại Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2005 nói trên): Hiệu lực của hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Trong khi đó, Luật Đầu tư năm 2020 (cũng như các Luật Đầu tư trước đây và các luật chuyên ngành khác) không có điều luật nào quy định hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài chỉ có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Nói tóm lại, nếu phải giải quyết tình huống tranh chấp nói trên, cơ quan tài phán sẽ rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, bởi có chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu buộc thực hiện hợp đồng thì đều có điều bất ổn. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì không căn cứ pháp luật, còn nếu chấp nhận yêu cầu thì vô hình trung cơ quan tài phán đã hợp pháp hóa một hành vi đầu tư kinh doanh vi phạm Luật Đầu tư và quy định đăng ký đầu tư trong trường hợp này trở nên vô nghĩa. Đây là một bất cập của Luật Đầu tư cần được nhanh chóng khắc phục nhằm minh bạch hóa và nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật nước nhà trong tiến trình hội nhập kinh tế và pháp luật với thế giới.

Nguyễn Công Phú - Nguyên phó chánh tòa Tòa Kinh tế TAND TPHCM (Bài viết được đăng trên Ấn phẩm “Nhận định mới của Luật – tạo bứt phá cho doanh nghiệp năm 2020” của VCCI/Tạp chí Tri thức Xanh số 74-21).
Bình luận: 0