TẠP CHÍ TRI THỨC XANH - CƠ QUAN LÝ LUẬN CỦA VIỆN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

E-mail:info@ttxonline.vn -  Hotline: 0948565689
thứ bảy, 04/12/2021

Ứng dụng công nghệ sinh học để phát triển nông nghiệp bền vững

17:41 01/04/2021
Logo header Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao. Đảng và Nhà nước ta luôn rất quan tâm đến việc phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp có giá trị tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao tiềm lực nghiên cứu phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ sinh học nông nghiệp hiện đại của khu vực và thế giới. Việt Nam đang trên con đường hướng tới trở thành quốc gia có trình độ công nghệ sinh học nông nghiệp ngang bằng các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, công nghệ sinh học được xem là 1 trong 4 hướng công nghệ cần ưu tiên phát triển phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đó, các đề án, chương trình về công nghệ sinh học cấp Quốc gia và ở nhiều bộ, ngành, địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp đã, đang được xây dựng và triển khai tập trung. Giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với các ảnh hưởng trực tiếp do biến đổi khí hậu, dân số tăng trưởng nhanh và diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra dẫm đến sự sụt giảm sản lượng nông nghiệp. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 đến năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, Việt Nam là quốc gia có dân số đông thứ 15 trên thế giới với dân số hơn 96 triệu người. Dự kiến dân số sẽ sớm đạt mốc 100 triệu người, điều này đồng nghĩa nước ta cần phải đảm bảo đủ lương thực cho dân số ngày một tăng này. Chưa kể Việt Nam còn là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi các vấn đề biến đổi khí hậu gây ra. Ngành nông nghiệp là một trong những ngành bị tác động mạnh nhất do phụ thuốc vào yếu tố thời tiết, thổ nhưỡng, thủy lợi… Xác định tầm quan trọng của nông nghiệp ứng dụng công nghệ giúp thay đổi bức tranh nông nghiệp nước nhà, đưa nền nông nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhấn mạnh những định hướng về phát triển nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao như: “Hiện đại hóa, thương mại hóa nông nghiệp, chuyển mạnh sang phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, sản xuất lớn, dựa vào khoa học - công nghệ, có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao. Chuyển nền nông nghiệp từ sản xuất lương thực là chủ yếu sang phát triển nền nông nghiệp đa dạng phù hợp với lợi thế của từng vùng”… Hiện nay, rất nhiều các chương trình, đề án đang được xây dựng và triển khai thực hiện tập trung vào mục tiêu: Tạo ra các giống mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; tạo ra các công nghệ sản xuất các chế phẩm chăm sóc và bảo vệ cây trồng, vật nuôi; các công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Công nghệ sinh học đã đem lại hiệu quả cao, giúp giải quyết vấn đề hạn chế trong nông nghiệp như năng suất, kháng bệnh… đồng thời chứng minh được khả năng cải thiện và bảo vệ môi trường.

Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp

Thời gian gần đây, nông nghiệp Việt Nam phát triển khá toàn diện và đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, với năng suất và chất lượng ngày càng cao góp phần đảm bao an ninh lương thực và giảm nghèo bền vững. Bên cạnh đó, thị trường nông sản đã có bước phát triển mới với nhiều nông sản có vị thế cao trên trường quốc tế. Nông sản nước ta hiện có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU… Hiện nay, nhiều địa phương, doanh nghiệp, tập đoàn lớn đã chọn nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch làm hướng đi chính để đầu tư, góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa, sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao vị thế nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Theo Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến cuối năm 2020 đã cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 9 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được công nhận. Ngoài 3 Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là Phú Yên, Bạc Liêu và Hậu Giang đã được thành lập, hiện đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét thành lập 3 Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Thái Nguyên, Quảng Ninh và Lâm Đồng. Trong 10 năm trở lại đây, Việt nam đã nghiên cứu và chuyển giao, ứng dụng công nghệ vào sản xuất hàng trăm quy trình kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp. Theo báo cáo, các tiến bộ về khoa học công nghệ đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Mức độ tổn thất của nông sản đã giảm đáng kể (lúa gạo còn dưới 10%,...). Mức độ cơ giới hóa ở khâu làm đất đối với các loại cây hàng năm (lúa, mía, ngô, rau màu) đạt khoảng 94%; khâu thu hoạch lúa đạt 50% (các tỉnh đồng bằng đạt 90%). Đặc biệt, việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ngày càng mở rộng và hiệu quả mang lại sản phẩm an toàn, chất lượng tốt và đạt năng suất cao. Bên cạnh đó, việc mở rộng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cùng với kết quả nghiên cứu, đánh giá, triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị. Mô hình cánh đồng mẫu lớn ngày càng nhiều, đến nay cả nước có gần 3.000 cánh đồng mẫu lớn. Nét nổi bật của sản xuất nông nghiệp là hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, việc ứng dụng khoa học và công nghệ sau thu hoạch tạo ra giá trị mới cho nông sản; các tiến bộ kỹ thuật được chuyển giao giúp sản phẩm tươi, an toàn, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng... Theo báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ, đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu và phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ trong nông nghiệp đã đạt được một số thành tựu, tuy nhiên, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nông nghiệp còn thấp, chưa tới ngưỡng nên chưa tạo ra sản phẩm khoa học và công nghệ mang tính đột phá, đặc trưng vùng, liên vùng.

Với mục tiêu phát triển công nghệ sinh học ngành nông nghiệp có giá trị tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao tiềm lực nghiên cứu phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ sinh học nông nghiệp hiện đại của khu vực và thế giới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có trình độ công nghệ sinh học nông nghiệp ngang bằng với các nước trong khu vực, ngày 24/3/2021 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 429/QĐ-TTg Về việc phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030. Đề án phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam làm chủ được một số công nghệ sinh học thế hệ mới, tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp ứng dụng thực tiễn sản xuất; hình thành và phát triển số lượng doanh nghiệp công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng thêm tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021 - 2025. Tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật cho các doanh nghiệp công nghiệp sinh học, tổ chức khoa học, công nghệ và tổ chức chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đủ trình độ làm chủ công nghệ, tiếp nhận, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ tiên tiến ở quy mô công nghiệp đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế. Đề án sẽ triển khai: Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp; xây dựng, phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp; xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp; xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp; truyền thông nâng cao nhận thức về công nghiệp sinh học nông nghiệp. Trong đó, Đề án sẽ hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp sinh học sản xuất sản phẩm nông sản ở quy mô công nghiệp gồm: Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực; phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh vật, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm sinh học xử lý môi trường, thức ăn chăn nuôi... phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ; chế phẩm sinh học phục vụ bảo quản chế biến sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực phục vụ nội tiêu và xuất khẩu; vắc-xin phòng bệnh cho vật nuôi, thủy sản, thuốc thú y sinh học, KIT sử dụng cho chẩn đoán, quản lý dịch bệnh hại quan trọng đối với cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực và kiểm soát dư lượng các chất cấm…

Để góp phần thúc đẩy nông nghiệp, nông dân và nông thôn tiếp tục có những bước phát triển mới, Nhà nước cùng với doanh nghiệp và người dân cần tận dụng được những lợi thế trong tiến trình hội nhập, ứng dụng rộng rãi hơn nữa những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp để xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hiệu quả, bền vững, có sức cạnh tranh cao và đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Tiến Đạt

Theo Tạp chí Tri thức Xanh - Số 55-21

Bình luận: 0