TẠP CHÍ TRI THỨC XANH - CƠ QUAN LÝ LUẬN CỦA VIỆN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

E-mail:info@ttxonline.vn -  Hotline: 0948565689
thứ hai, 25/10/2021

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong pháp luật quốc tế một số vấn đề đặt ra đối với pháp luật hình sự Việt Nam

16:56 12/06/2021
Logo header Bảo vệ quyền trẻ em luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng. Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, mạnh mẽ và hiệu quả là công cụ hữu hiệu nhất trong hoạt động bảo vệ quyền trẻ em, trong đó việc xây dựng các chế tài hình sự đối với hành vi xâm hại trẻ em nhằm tạo ra lá chắn pháp lý bảo vệ trẻ em trước hành vi xâm hại là vấn đề hết sức cần thiết. Trong nội dung báo cáo khoa học tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam về hành vi xâm hại tình dục trẻ em, từ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em.

1. Đặt vấn đề

Xuất phát từ thực tế xã hội và quan điểm coi việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu, với quan điểm xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xem trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới ký kết và phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (CƯQTE - CRC). “Do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” nên để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của trẻ em từ khi tham gia CƯQTE Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm nội luật hóa quy định của CƯQTE và tạo hành lang pháp lý xử lí những hành vi xâm hại đến quyền trẻ em. Trong đó hoạt động xây dựng chế tài xử lý những hành vi phạm tội xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng được đặc biệt quan tâm.

Theo báo cáo của Chính phủ tính từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019 cả nước đã phát hiện, xử lý về hình sự và xử lý hành chính: 8.091 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong đó: Xâm hại tình dục: 6.364 vụ với 6432 trẻ em, chiếm 73,85% tổng số trẻ em bị xâm hại; Bạo lực trẻ em: 706 vụ với  857 trẻ em (giết trẻ em: 191 trẻ, cố ý gây thương tích: 666 trẻ), chiếm 9,84% tổng số trẻ em bị xâm hại; Mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em: 122 vụ với 106 trẻ em, chiếm 1,22% tổng số trẻ em bị xâm hại... Ngoài số trẻ em bị xâm hại bởi các hình thức nêu trên, thì hành vi mại dâm người chưa thành niên cũng đáng báo động nhiều nghiên cứu đã cho thấy cả trẻ em nam và nữ tuổi dưới 12 và dưới 18 đều tham gia vào các hoạt động tình dục vì mục đích thương mại. Theo ước tính có khoảng 13% đối tượng mại dâm ở độ tuổi dưới 18 tuổi. Thực tế cho thấy việc bảo vệ trẻ em trước hành vi xâm hại tình dục hiện nay đã vượt ra khỏi ranh giới của những hành vi xâm hại cụ thể, sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến việc trẻ em được tiếp xúc rộng rãi với dịch vụ internet, điều này cũng mang lại nhiều tác động tiêu cực liên quan đến hành vi xâm hại tình dục trẻ em là việc các đối tượng lợi dụng môi trường mạng dụ dỗ, cưỡng ép trẻ em tiếp xúc, làm ra các văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.

Thực tế trên cho thấy tội phạm xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng đang có chiều hướng gia tăng. Đây là những tội phạm rất nguy hiểm không chỉ gây ra thiệt hại cho xã hội, làm băng hoại nền tảng đạo đức mà còn gây ra những tổn thương nặng nề về thể chất và tâm lý rất khó khắc phục đối với nạn nhân. Chính vì lý do như trên nên đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có những biện pháp đấu tranh kịp thời mà một trong những biện pháp chính đó là biện pháp pháp luật. Bộ luật Hình sự 2015 - sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017 (BLHS 2015) đã có sửa đổi toàn diện với mục đích bảo vệ các quyền của trẻ em, bao gồm sửa đổi các điều khoản liên quan đến tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, trẻ em là nạn nhân của tội phạm, trong đó có tội phạm liên quan đến hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Trong nội dung của bài viết tác giả phân tích những đặc điểm của các tội phạm liên quan đến hành vi “xâm hại tình dục trẻ em” theo quy định của pháp luật quốc tế và Luật Hình sự Việt Nam qua đó đánh giá độ tương thích giữa quy định của pháp luật Việt Nam và các văn bản pháp lý quốc tế, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hình sự.

2. Một số vấn đề về hành vi xâm hại tình dục trẻ em

Xâm hại tình dục trẻ em được hiểu là quá trình trong đó “một người trưởng thành lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục”. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hành vi xâm hại tình dục trẻ em được định nghĩa: “là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu biết, hoặc hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ, và hành động gây ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của người đó”.

Ở một khía cạnh khác, Hội đồng Thẩm phán TANDTC giải thích xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là: “việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ...)”.

Từ những quan điểm nêu trên về hành vi xâm hại tình dục trẻ em có thể rút ra một số đặc điểm của như sau:

Thứ nhất, về đối tượng thực hiện hành vi thường là một người dựa trên sự vượt trội về độ tuổi, kinh nghiệm, sức mạnh thể chất hoặc địa vị xã hội của mình so với nạn nhân, sử dụng quyền lực của mình để khiến trẻ tham gia vào hoạt động tình dục. Nhóm đối tượng thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em tập trung ở nhóm nam giới trên 18 tuổi (trên 95%). Những đối tượng này thường là người có mối quan hệ thân thuộc với nạn nhân hoặc tự bản thân đối tượng tạo dựng mối quan hệ với nạn nhân để thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, người quen, hàng xóm của trẻ em chiếm 59,4%, người thân trong gia đình chiếm 21,3% (trong đó bố đẻ chiếm 5,73%, bố dượng 5,07%, người thân khác 10,5%), giáo viên, nhân viên nhà trường chiếm 6,15%, các đối tượng khác chiếm 13,15%. Qua số liệu nêu trên có thể thấy đối tượng xâm hại tình dục trẻ em thường là người có mối quan hệ thân thuộc với trẻ em hoặc đối tượng không có mối quan hệ thân thuộc với trẻ lợi dụng các hoàn cảnh khác để tạo dựng mối quan hệ nhằm mục đích xâm hại tình dục hoặc trực tiếp thực hiện hành vi xâm hại.

Thứ hai, hành vi xâm hại tình dục trẻ em hiện nay không chỉ dừng ở việc xâm hại về mặt thể chất mà còn xuất hiện dạng hành vi xâm hại tinh thần của trẻ em. Về hành vi xâm hại về thể chất có thể là hành vi bắt ép trẻ quan hệ tình dục trái ý muốn (hiếp dâm, cưỡng dâm), quan hệ tình dục có sự đồng thuận của trẻ em (Giao cấu với trẻ vị thành niên, mua dâm trẻ em), đụng chạm thân thể trẻ em để thỏa mãn nhu cầu tình dục không có mục đích giao cấu (dâm ô)…, còn dạng xâm hại về tinh thần có thể là cho trẻ tiếp xúc với văn hóa phẩm đồi trụy, dùng trẻ em làm ra các văn hóa phẩm khiêu dâm, thực hiện những hành vi tình dục khác trong sự quan sát của trẻ em...

Thứ ba, hành vi xâm hại tình dục trẻ em thường để lại những hậu quả cực kì nghiêm trọng về thể chất và tinh thần cho nạn nhân. Ngoài những tổn hại về sức khỏe, thể chất cho trẻ, xâm hại tình dục để lại những tổn thương về tinh thần rất khó khắc phục ở trẻ, những tổn thương này ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về nhân cách ở trẻ bị xâm hại. Nếu không có sự tham vấn, điều trị tâm lý kịp thời sẽ dẫn đến sự lệch lạc về sự nhận thức và hành vi của trẻ khi trưởng thành.

3. Quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Thứ nhất, về pháp luật quốc tế

Nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu tranh, xử lý hành vi xâm hại tình dục trẻ em, một loạt các văn kiện pháp lý quốc tế đã được ban hành. Những văn kiện pháp luật quốc tế quan trọng quy định về vấn đề này bao gồm Công ước về quyền trẻ em (1989) và Nghị định thư không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em (2000) (Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho CƯQTE), Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000) (UNTOC) và Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung UNTOC (2005) (Nghị định thư BBN) và  Công ước (Số 182) về nghiêm cấm và hành động tức thời để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (Công ước 182 của ILO). Đồng thời một số văn kiện khác cũng bao hàm các quy định chung về nghĩa vụ bảo vệ trẻ em.

CƯQTE xây dựng một tiêu chuẩn phổ quát về quyền trẻ em và đặt ra đòi hỏi với các quốc gia thành viên “trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù cho các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, tòa án, các nhà chức trách hành chính hay các cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”. Đây là một thỏa ước quốc tế được rất nhiều nước công nhận với tổng cộng 196 quốc gia thành viên. Việt Nam là quốc gia thành viên của Công ước này. 

CƯQTE đặt ra những chuẩn mực pháp lý quan trọng liên quan đến cuộc đấu tranh bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại tình dục và tạo ra những cơ chế phù hợp để trẻ tham gia vào các quá trình tư pháp hoặc hành chính. Điều 34 quy định các quốc gia phải thực hiện những biện pháp phù hợp với hoàn cảnh của mình và phối hợp với các quốc gia khác để bảo vệ trẻ em tránh khỏi mọi hình thức bóc lột tình dục và xâm hại tình dục, yêu cầu các quốc gia phải có những biện pháp thích hợp ở cấp quốc gia để ngăn ngừa:

(a) Hành vi lôi kéo hoặc ép buộc trẻ em tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục bất hợp pháp nào;

(b) Hành vi bóc lột trẻ em trong các hoạt động mại dâm và các hoạt động tình dục trái pháp luật khác;

 (c) Hành vi bóc lột trẻ em trong việc biểu diễn và thực hiện các tài liệu khiêu dâm.

Nghị định thư không bắt buộc bổ sung CƯQTE đòi hỏi các quốc gia thành viên phải có biện pháp cụ thể để nghiêm cấm việc mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em - các hoạt động mà bản thân văn kiện này nhìn nhận là có liên quan mật thiết tới hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Những định nghĩa được quy định trong Nghị định thư về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em là những định nghĩa rộng, bao trùm nhiều hành vi khác nhau như: Mại dâm trẻ em nghĩa là việc sử dụng trẻ em vào các hoạt động tình dục để nhận tiền hoặc bất kỳ hình thức thanh toán nào khác; Khiêu dâm trẻ em nghĩa là bất cứ sự thể hiện nào, dù bằng bất kỳ phương tiện gì, việc trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục một cách rõ ràng, thật hoặc mô phỏng, hoặc bất kỳ sự thể hiện nào về những bộ phận sinh dục của trẻ em chủ yếu nhằm các mục đích tình dục.

Nghị định thư này cũng quy định các quốc gia thành viên phải hình sự hóa những hành vi kể trên bất kể hành vi đó được thực hiện dưới hình thức nào (ví dụ: hành vi này luôn luôn cấu thành tội phạm bất kể là do cá nhân thực hiện hay có tổ chức, trong một nước hay xuyên quốc gia). Ngoài ra, Nghị định thư này còn đòi hỏi hình sự hóa và có chế tài xử phạt thích đáng đối với các hành vi nghiêm trọng liệt kê dưới đây liên quan tới xâm hại tình dục trẻ em: Cung cấp, chuyển giao, hay tiếp nhận trẻ em dưới bất cứ hình thức nào nhằm mục đích bóc lột tình dục trẻ em; Mời chào, tìm giúp, môi giới, hoặc cung cấp trẻ em cho mục đích mại dâm trẻ em; Làm ra, phát tán, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán, hoặc tàng trữ tài liệu khiêu dâm trẻ em; và tổ chức, xúi giục, giúp sức người thực hiện tội phạm thực hiện một trong các hành vi kể trên hoặc hành vi của người thực hiện tội phạm ở giai đoạn chưa hoàn thành. 

Thứ hai, về quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam

BLHS 2015  không quy định trực tiếp hành vi xâm hại tình dục trẻ em là một tội danh. Tuy nhiên, hành vi này sẽ bị xử lý hình sự thông qua một số tội danh khác liên quan đến hành vi này, cụ thể:

Xâm hại tình dục: BLHS 2015 quy định một số tội liên quan tới xâm hại tình dục trẻ em. BLHS 2015 quy định bất kỳ hành vi giao cấu nào với trẻ em dưới 13 tuổi đều bị coi là hiếp dâm người dưới 16 tuổi, và phải chịu mức hình phạt từ 07 năm tù đến 15 năm tù giam, Từ 12 năm năm tù giam đến 20 năm tù giam, chung thân hoặc tử hình, mức độ nghiêm khắc của hình phạt áp dụng đối với loại tội phạm này đã phản ánh tính chất nghiêm trọng của nó. Bộ luật Hình sự cũng có quy định một số tội danh khác như: cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 144), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145) và tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 146). Nhìn chung đối với hành vi xâm hại tình dục trẻ em BLHS 215 đã có những điều khoản quy định cụ thể và có chế tài hình sự nghiêm khắc đối những hành vi này, phần nào cũng đã thể hiện tinh thần của các văn bản pháp luật quốc tế.

Mại dâm trẻ em: Bộ luật Hình sự hiện hành không quy định riêng một tội danh về “mại dâm trẻ em”. Tuy nhiên, Điều 329 - BLHS 2015 về “mua dâm với người dưới 18 tuổi” quy định những người có hành vi mua dâm với người dưới 18 tuổi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bất kể người chưa thành niên đồng ý với hành vi đó. “Mua dâm” được định nghĩa là hành vi của một người mua chuộc một trẻ chưa thành niên bằng lợi ích vật chất để trẻ đồng ý với hành vi giao cấu. Người mua dâm trẻ em dưới 13 tuổi bị xử lý về hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi và bị áp dụng chế tài nghiêm khắc . Bộ luật Hình sự cũng cấm hành vi chứa chấp mại dâm (Điều 327) và môi giới mại dâm (Điều 328). Đối với cả hai tội danh này, hình phạt tăng nặng sẽ được áp dụng cho tội danh đối với trẻ em từ 16 đến dưới 18 tuổi và từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.

Khiêu dâm trẻ em: Điều 326 - BLHS 2015 quy định tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy bao gồm các hành vi: làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán hoặc tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi trụy cũng như hành vi khác truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy. Trường hợp phạm tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy đối với người dưới 18 tuổi thì hình phạt là tù từ 3 năm đến 10 năm (hoặc nếu có các tình tiết tăng nặng khác, ví dụ như gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm). Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Các thuật ngữ được sử dụng trong BLHS 2015 để hình sự hoá hành vi truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu của Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về quyền trẻ em.

Nhìn chung theo quy định của Luật hình sự Việt Nam mặc dù không quy định trực tiếp hành vi xâm hại tình dục trẻ em nhưng thông qua các tội danh cụ thể khác liên quan đến nhóm hành vi xâm hại tình dục trẻ em phần nào cũng đã tiếp cận và sát hợp với các văn bản pháp luật quốc tế về quyền trẻ em.

4. Một số ý kiến đề xuất

Trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm liên quan đến  hành vi xâm hại tình dục trẻ em, tác giả đưa ra một số ý kiến đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam nhằm phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế trong hoạt động bảo vệ quyền trẻ em như sau:

Thứ nhất, Để tạo cơ sở cho việc xây dựng quy định về hành vi xâm hại tình dục trẻ em cần thống nhất khái niệm “trẻ em”. Trước đây BLHS 1999 đồng thời sử dụng hai khái niệm “trẻ em” và “người chưa thành niên”. Các khái niệm này được ghi nhận trong các luật cụ thể, theo Luật Trẻ em (2016) “trẻ em là người dưới 16 tuổi”; còn theo Bộ luật Dân sự (2015) “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Việc sử dụng đồng thời hai khái niệm này tạo ra sự phân biệt không cố ý giữa trẻ em dưới 16 tuổi và người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (với vai trò là nạn nhân). Quy định như trên phần nào cũng chưa phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế, theo chuẩn mực quốc tế các quốc gia phải định nghĩa “trẻ em” là mọi người dưới 18 tuổi. Về vấn đề này BLHS 2015 đã có sự sửa đổi không sử dụng thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên” mà sử dụng các mốc độ tuổi để xác định như một tình tiết định khung tăng nặng trong các tội liên quan đến người dưới 18 tuổi (với vai trò là nạn nhân). Tuy nhiên, việc quy định như vậy cũng chỉ thay đổi về mặt hình thức chưa phản ánh được nội hàm của thuật ngữ trẻ em theo CƯQTE, điều này đặt ra yêu cầu phải xem xét chỉnh sửa để bảo đảm tất cả trẻ em được bảo vệ đầy đủ theo quy định của các chuẩn mực quốc tế và đảm bảo sự phù hợp giữa luật quốc gia và luật pháp quốc tế.

Thứ hai, mặc dù BLHS 2015 đã có sự thay đổi ở một số tội danh liên quan đến vấn đề xâm hại tình dục trẻ em, ví dụ bổ sung tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 146), hình sự hoá hành vi “thực hiện hành vi tình dục khác”..., nhưng cũng có một số nội dung khác cần phải được nghiên cứu bổ sung như: đối với hành vi giao cấu với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và hành vi dâm ô khi nạn nhân là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi BLHS không có quy định cụ thể. Thêm vào đó, đối với hành vi gây cảm tình với nạn nhân (Grooming conduct) không được hình sự hóa. Hành vi này xảy ra khi kẻ phạm tội xâm hại tình dục trẻ em - có hành vi săn đón để bắt đầu và phát triển mối quan hệ với trẻ em, sử dụng quan hệ đó để xây dựng lòng tin nhằm mục đích cuối cùng là tiến tới việc xâm hại tình dục trẻ em đó. Trong luật Hình sự Việt nam hành vi gây cảm tình nhằm thực hiện hành vi phạm tội khá tương đồng với hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm được quy định tại Điều 14 - BLHS 2015. Tuy nhiên, các hành vi liên quan đến chuẩn bị thực hiện tội phạm xâm hại tình dục trẻ em lại không phải chịu trách nhiệm hình sự chính điều này tạo ra khoảng trống pháp lý và không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa đối với người chuẩn bị thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

Thứ ba, để phù hợp với CƯQTE và các văn bản pháp lý liên quan BLHS 2015 quy định việc chứa mại dâm và môi giới mại dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi như là một tình tiết tăng nặng trong hai tội phạm nêu trên (Điều 327, 328 - BLHS 2015). Về mặt lập pháp có thể thấy mối liên hệ giữa ba hành vi chứa mại dâm, môi giới mại dâm và mua dâm người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, việc xây dựng nội dung của ba điều luật này lại thiếu sự thống nhất, có thể thấy chế tài hình sự đối với hành vi mua dâm người dưới 18 tuổi và môi giới mại dâm đối với người dưới 18 tuổi nhẹ hơn hẳn hai hành vi chứa mại dâm.

Về mặt nguyên tắc Bộ Tư pháp cũng chỉ dẫn rằng trong trường hợp người có hành vi chứa chấp, môi giới mại dâm hoặc mua dâm mà nạn nhân là trẻ em dưới 13 tuổi, thì người phạm tội không bị xử về các hành vi chứa chấp hay môi giới mại dâm hay mua dâm người dưới 18 tuổi mà bị xử về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (đối với đối tượng mua dâm trẻ em) hoặc với vai trò là người đồng phạm cho hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi (trong hai trường hợp còn lại). Nhưng trên thực tế lại rất khó xử lý bởi kẻ thực hiện hành vi phạm tội sẽ chối tội theo hướng mình bị nhầm lẫn về độ tuổi của nạn nhân. Do đó, quy định thành tội danh riêng với hai hành vi nêu trên mới đảm bảo tính nghiêm khắc và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa. Thêm vào đó, sẽ nảy sinh trường hợp có hành vi chứa chấp và môi giới mại dâm người dưới 13 tuổi nhưng chưa phát sinh hành vi mua dâm. Với các hiểu nêu trên thì không thể xử lý về hiếp dâm người dưới 16 tuổi đối với hành vi chứa chấp và môi giới chính điều này tạo ra lỗ hổng pháp lý trong việc xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Do đó, nên bổ sung tình tiết tăng nặng chứa chấp, môi giới mại dâm đối với người dưới 13 tuổi nhưng nạn nhân chưa thực hiện được hành vi bán dâm.

Thứ tư, đối với hành vi khiêu dâm trẻ em BLHS không hình sự hóa hành vi tàng trữ văn hoá phẩm đồi trụy không vì mục đích phát tán, trong đó có văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em. Yếu tố then chốt này được yêu cầu phải quy định trong luật để bảo đảm các tội phạm tình dục trẻ em mà lưu giữ văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em để sử dụng riêng cho mình (và không có ý định phát tán) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Pháp luật còn thiếu định nghĩa rõ ràng về văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em. Cần phải phân biệt giữa văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm người lớn để bảo đảm không có sự mơ hồ trong tính chất của văn hoá phẩm khiêu dâm và phản ánh tính chất nghiêm trọng của hành vi này.

Nguyễn Duy Dũng

Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Theo Tạp chí Tri thức Xanh - Số 65 - 21

Bình luận: 0