TẠP CHÍ TRI THỨC XANH - CƠ QUAN LÝ LUẬN CỦA VIỆN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

E-mail:info@ttxonline.vn -  Hotline: 0948565689
thứ hai, 18/10/2021

Phát triển năng lực tư duy lý luận của cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay

23:00 09/09/2021
Logo header Tư duy lý luận là quá trình con người phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, quy luật logic... Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ, công chức chính là khả năng về mặt tư duy lý luận hay tư duy khoa học để đội ngũ này có thể hoàn thành các nhiệm vụ với vai trò lãnh đạo, quản lý hoặc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong hoạt động thực thi công vụ. Chính vì vậy, phát triển, nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ, công chức là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài.

1. Tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận

Với tư cách kết quả của quá trình nhận thức, tư duy lý luận thuộc về giai đoạn nhận thức lý tính, và là hình thức phát triển cao nhất của tư duy; là quá trình phản ánh tích cực, chủ động và sáng tạo hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao thông qua các khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, và sự tác động của các quy luật logic. Ở cấp độ tư duy lý luận, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức. Tư duy lý luận có vai trò hết sức to lớn trong nhận thức và cải tạo thế giới. Ph.Ăngghen cho rằng: “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”[2]. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, ngay từ thời kỳ đầu, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khẳng định: “Muốn đổi mới tư duy và đổi mới xã hội trước hết phải đổi mới tư duy lý luận”[5];

Sở dĩ có những nhận định như vậy là bởi tư duy lý luận có các đặc trưng cơ bản như: tính khoa học; tính sáng tạo; biểu hiện và hoạt động nhờ hệ thống khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy lý; được tổng kết, khái quát thực từ tiễn và có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Điều này cho thấy tư duy lý luận đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của khoa học cũng như trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn xã hội của con người.

Năng lực tư duy được hiểu là tổng hợp những phẩm chất về trí tuệ của con người và từ đó có khả năng nhận thức và hành động sáng tạo; là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hoá, khái quát hoá, liên tưởng, luận giải và xử lý trong quá trình phản ánh hiện thực, hình thành và phát triển tri thức đồng thời vận dụng những kết quả phản ánh - tri thức mới đó vào thực tiễn theo những quy luật khách quan và quy luật logic vốn có của tư duy nhằm đạt được mục đich xác định. Từ cách tiếp cận về năng lực tư duy như trên, có thể thấy, xét về mặt cấu trúc, năng lực tư duy lý luận được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản: một là, năng lực ghi nhớ, tái hiện đối tượng bằng ngôn ngữ, hình ảnh do nhận thức cảm tính đem lại; hai là, năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá trên cơ sở các tài liệu cảm tính đã có, thông qua các thao tác phân tích và tổng hợp, quy nạp, diễn dịch…; ba là, năng lực tưởng tượng, suy luận, liên hệ để phát hiện, lựa chọn, xử lý, lọc bỏ, kế thừa, tiếp biến… cả trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Các yếu tố cấu thành năng lực tư duy lý luận có quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất hữu cơ và chuyển hóa lẫn nhau, sự phân biệt giữa chúng chỉ là phân biệt về mặt nhận thức luận, và cũng chỉ là tương đối.

Bên cạnh đó, xét về tiến trình vận động, năng lực tư duy lý luận diễn ra với hai khuynh hướng cơ bản: một là, sử dụng các khái niệm, phán đoán, nguyên lý, suy luận, quy luật logic… để phản ánh sự vật, hiện tượng, cố gắng nắm bắt cái bản chất, cái có tính tất yếu của đối tượng; hai là, vận dụng tri thức đã có nhờ quá trình phản ánh sự vật để thực hiện các hoạt động nhận thức tiếp theo và hoạt động thực tiễn của chính bản thân con người. Năng lực tư duy lý luận cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: đặc tính bẩm sinh của cá nhân; quá trình giáo dục, đào tạo, học tập, rèn luyện; môi trường kinh tế - xã hội, nền tảng văn hoá, khoa học của xã hội; hoạt động thực tiễn có tác động trực tiếp đến năng lực tư duy lý luận bởi thực tiễn là mục đích, là tiêu chuẩn của lý luận; nhu cầu, lợi ích - động lực quan trọng góp phần hình thành thái độ, động cơ của mọi hoạt động và năng lực của con người, trong đó có năng lực tư duy lý luận.

Từ góc độ nội dung thì có thể hiểu tư duy lý luận ở Việt Nam được thể hiện ở khả năng chủ thể tư duy nắm bắt được những nội dung lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực công tác, địa phương, đơn vị và nhiệm vụ của cán bộ, công chức; khả năng hiểu rõ tình hình thực tiễn trên địa bàn địa phương; khả năng đề ra phương hướng tối ưu để giải quyết các vấn đề liên quan. Cụ thể là: năng lực thu nhận tri thức: tiếp thu tri thức lý luận để hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của cán bộ, công chức; tiếp thu lý luận, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tổng kết và học tập kinh nghiệm thực tiễn; biến những tri thức đã lĩnh hội được thành chương trình, kế hoạch hành động làm biến đổi trực tiếp hiện thực - năng lực vận dụng, cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng một cách thiết thực, sáng tạo phù hợp với từng địa phương; vận dụng sáng tạo kiến thức lý luận vào thực tiễn đồng thời tổng kết thực tiễn, phát hiện những vấn đề nãy sinh từ địa phương để có đề xuất, kiến nghị phù hợp, thực tế, khả thi, góp phần bổ sung, phát triển hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách.

Năng lực tư duy lý luận là điều kiện quan trọng để cán bộ, công chức triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Đường lối, chủ trương của Đảng là đường lối chung, khái quát ở tầm vĩ mô, khi triển khai trong thực tiễn thực thi công vụ, nhất là ở địa phương đòi hỏi vừa phải đảm bảo đúng đường lối, chủ trương, pháp luật, vừa phải năng động, sáng tạo mới có được hiêụ quả, kết quả một cách thực chất và được người dân chấp nhận, làm theo. Để đáp ứng được yêu cầu đó cán bộ, công chức phải có trình độ tư duy lý luận nhất định mới đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay bởi trong thực tiễn và nhất là thực tiễn ở các địa phương thường là nơi rất dễ nảy sinh những mâu thuẫn, những vấn đề mới trong mọi lĩnh vực của đời sống tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Như vậy, có thể nói, phát triển, nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ, công chức là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài.

2. Tính tất yếu và giải pháp phát triển năng lực tư duy lý luận của cán bộ, công chức hiện nay

Hoạt động (cả nhận thức và thực tiễn) của cán bộ, công chức là một loại hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội - chính trị không chỉ bởi nó là hoạt động của cơ quan công quyền mà còn là và chủ yếu là do phương thức hoạt động đặc biệt của nó - hoạt động quản lý đối với xã hội bằng các văn bản lãnh đạo, quản lý. Hoạt động này được diễn ra thông qua việc ban hành các quyết định của các cơ quan trong hệ thống chính trị mà thực chất được triển khai xây dựng và thực hiện bởi cán bộ, công chức. Như vậy, hiệu lực, hiệu quả và tác động của các loại văn bản này phụ thuộc rất nhiều vào tư duy của người lãnh đạo quản lý (cơ quan công quyền và cán bộ, công chức), đúng hơn là chịu ảnh hưởng của việc diễn đạt và chính xác hóa tư duy của họ, đặc biệt là tư duy lý luận, vì vậy việc rèn luyện, phát triển năng lực tư duy lý luận và kỹ năng tư duy logic trong lãnh đạo, quản lý nói chung và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách nói riêng là hết sức cần thiết. Hoạt động lãnh đạo, quản lý nói nói chung, gồm các hoạt động hoạch định chính sách, chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện, quản lý, kiểm tra các quá trình thực hiện, đưa các chủ trương, đường lối, chính sách vào cuộc sống. Đây là hoạt động vô cùng phức tạp nhưng cũng đặc biệt quan  trọng, nó liên quan đến sự sống còn, an - nguy của cả một quốc gia, một dân tộc thậm chí cả khu vực.

Một trong những hoạt động quan trọng nhất của lãnh đạo, quản lý là ra quyết định. Hoạt động này đòi hòi phải tập hợp đầy đủ thông tin, xử lý thông tin, đề ra các phương án khác nhau, thẩm định hiệu quả từng phương án, ban hành quyết định lãnh đạo, quản lý. Như vậy, ra quyết định thực chất là một tiến trình hành động, bao gồm nhiều khâu khác nhau. Để sản phẩm cuối cùng là “quyết định chính sách” có chất lượng, đáp ứng nhu cầu giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra về mặt logic các khâu phía trước phải được thực hiện chính xác, khoa học, đồng bộ, tức phải theo một trật tự logic chặt chẽ, nhất quán, phi mâu thuẫn và mang tính tương hỗ; phải được định hình và xây dựng sau một quá trình nhận thức, suy luận chặt chẽ, đảm bảo rằng các quá trình trong tư duy lý luận của người lãnh đạo, quản lý không phạm phải những sai lầm. Như vậy, việc ra quyết định lãnh đạo quản lý đã liên quan trực tiếp đến vấn đề phương pháp, nghệ thuật giành thắng lợi để đáp ứng mục tiêu của tổ chức đặt ra. Nói một cách khác tư duy logic luôn là điều kiện cần để phát triển, nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ, công chức nói chung và người lãnh đạo, quản lý nói riêng, là một yếu tố đảm bảo thành công cho người lãnh đạo, quản lý.

Mặt khác, các quyết định lãnh đạo, quản lý thực chất là sự thể hiện tư duy lý luận của người lãnh đạo, quản lý (trong đó có sự đóng góp rất đáng kể của đội ngũ những cán bộ, công chức - chuyên viên tham mưu, thừa hành) và chủ yếu được thể hiện dưới dạng các văn bản. Tính đúng đắn, chính xác, hiệu lực, hiệu quả của các văn bản đó phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng sử dụng các khái niệm, phán đoán; vào việc thực hiện các quá trình suy luận để diễn đạt tư duy của các nhà quản lý. Thế nhưng, kỹ năng sử dụng các khái niệm, phán đoán, suy luận lại không phải là năng lực tiên thiên, trời phú mà bất kỳ ai, kể cả các nhà quản lý, lãnh đạo, cũng đều chỉ có thể có được thông qua việc nghiên cứu, học tập, rèn luyện một cách có ý thức, bài bản và nghiêm túc các kỹ năng của tư duy logic.

Cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền chính là nguồn nhân lực trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực tế, cũng là lực lượng thể hiện trực tiếp nhất vai trò, chức năng và bản chất của Nhà nước. Tuy nhiên, đội ngũ này cũng là nơi biểu hiện tập trung nhất, trực tiếp nhất và rõ ràng nhất các trì trệ, yếu kém của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng. Một trong những nguyên nhân quan trọng (và thậm chí còn có thể nói rằng đó là sự “tiếp tay”) của sự trì trệ, kém hiệu năng của các cơ quan trong hệ thống chính trị chính là việc các văn bản lãnh đạo, quản lý mắc rất nhiều lỗi logic. Do cách thức trình bày, diễn đạt mắc lỗi logic mà tư duy của người lãnh đạo, quản lý, cán bộ, công chức có thể bị hiểu sai lạc, tạo điều kiện cho việc lách kẽ hở của văn bản, làm lợi cho cá nhân, cho nhóm (mà người ta vẫn thường nhân danh tập thể); làm giảm hiệu lực, hiệu quả của văn bản lãnh đạo, điều hành, quản lý và thậm chí còn gián tiếp dung dưỡng thói quen không tuân thủ pháp luật của người dân, cán bộ, công chức và cả cơ quan nhà nước; gây phiền hà cho công dân, tổ chức - vốn là đối tượng đông đảo nhất chịu sự điều chỉnh của các văn bản chỉ đạo, quản lý, điều hành tạo nên những bức xúc được định danh bằng cụm từ “hành là chính”.

Trên cơ sở đánh giá một cách khách quan về công tác lý luận cũng như thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ, công chức, Đại hội XII, Đảng cộng sản Việt Nam xác định: “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao... Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới”[9, tr.192-193], và để khắc phục tình trạng trên, một trong những nhiệm vụ trước mắt là: “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[9, tr 20]. Cũng mạch quan điểm này, Đại hội XIII khẳng định: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”[3]. Để đảm bảo thực hiện thắng lợi các định hướng lớn của Đảng cộng sản Việt Nam về tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách thì việc phát triển năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ, công chức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều này đòi hỏi một hệ thống các giải pháp vừa có thể giải quyết tình thế, khắc phục ngay những hạn chế, bất cập vừa có tính căn cơ, chiến lược lâu dài.

Một là, phát triển năng lực thu nhận tri thức. Đây là năng lực tiếp thu tri thức lý luận để hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học; năng lực học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khả năng phát hiện những vấn đề mới, khả năng tổng kết thực tiễn và học tập kinh nghiệm thực tiễn. Để phát triển năng lực này, bản thân cán bộ, công chức phải quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng của tư duy lý luận trong thời kỳ mới; quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lớn của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ. Muốn đổi mới nhận thức về vai trò của tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận thì trước hết phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập, thực hành, làm theo tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó việc học tập, quán triệt và nhất là vận dụng sáng tạo những nội dung của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa quan trọng đặc biệt vì đó là cơ sở lý luận, là công cụ nền tảng về phương pháp luận cho toàn bộ hoạt động nhận thức và thực tiễn cũng như cho việc đổi mới, phát triển tư duy lý luận. Việc này  sẽ giúp cán bộ, công chức gia tăng năng lực thu nhận tri thức, nhất là tri thức mới về các điều kiện, nguồn lực, cũng như các thách thức, rào cản của công cuộc đổi mới, sáng tạo mà chúng ta đang tiến hành; nâng cao năng lực nắm bắt chính xác, đúng bản chất của những hiện tượng đa dạng, phong phú và thay đổi nhanh chóng trong thực tiễn, từ đó vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc đề ra những chính sách cụ thể phù hợp đặc điểm, tình hình của địa phương, đơn vị, lĩnh vực công tác; nâng cao năng lực thu nhận,  xử lý thông tin để trên cơ sở đó ra được các quyết định đúng, chính xác, kịp thời.

Hai là, phát triển năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn. Để phát triển năng lực này, phải triển khai rất nhiều biện pháp, nhưng những hướng sau đây phải được ưu tiên: Thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ một cách hiệu quả, công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ, công chức cần được đẩy mạnh, thường xuyên và liên tục để kiểm tra năng lực đội ngũ này đồng thời khắc phục tình trạng khép kín, thụ động, hẫng hụt trong công tác cán bộ; yêu cầu đồng thời tạo cơ hôi, điều kiện để cán bộ, công chức luôn quán triệt và có thói quen gắn, vận dụng lý luận với thực tiễn công việc, nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn; coi đây là một yêu cầu cấp bách đối với cán bộ công chức hiện nay, hoạt động tổng kết thực tiễn sẽ từng bước rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy lý luận của họ

Ba là, phát triển năng lực hình thành tri thức mới nhằm phản ánh kịp thời và phù hợp sự vận động, biến đổi, phát triển không ngừng của thực tiễn. Đây cũng là một biểu hiện rất đặc trưng cần có trong năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ, công chức, giúp họ vừa có thể vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn, vừa có thể, tổng kết, phát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn để góp phần bổ sung, phát triển hoàn thiện chủ trương, chính sách một cách có căn cứ, khách quan, khoa học. Năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy khoa học về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển. Đó là khả năng sáng tạo trong sử dụng các khái niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mang tính chính xác, sâu sắc, hệ thống, phù hợp với tính quy định vốn có của hiện thực khách quan. Hơn nữa, năng lực tư duy lý luận còn có khả năng vận dụng lý luận vào cuộc sống, cụ thể hóa lý luận, dựa vào lý luận mà xây dựng các giải pháp, các phương án giải quyết các vấn đề của thực tiễn một cách tối ưu.

Phát triển năng lực hình thành tri thức mới của cán bộ, công chức ở Việt Nam còn được thể hiện ở việc vận dụng quan điểm chủ trương của Đảng, trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với triết lý Hồ Chí Minh phát hiện, đề xuất, những tri thức lý luận mới, những tổng kết bài học kinh nghiệm phù hợp với sự phát triển của thực tiễn. Những tri thức, bài học này sẽ lại đóng vai trò dẫn đường, định hướng và gợi mở, giúp có những câu trả lời cho những vấn đề đặt ra, những thách thức, rào cản cần phải vượt qua trong tiến trình xây dựng, bảo vệ tổ quốc, nhất là nhiệm vụ quản trị quốc gia và phục vụ nhân dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Chí Bảo (2012), Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.489.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.181-182.
4. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2009), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội.
5. Nguyễn Văn Linh (1987), Cách mạng tháng Mười và cách mạng Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số11, tr.6.
6. Trần Sĩ Phán (2017), Tư duy lý luận, Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017.
7. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Phạm Xuân Thiên (2017), Một số hạn chế trong tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cơ sở và biện pháp khắc phục, Tạp chí Giáo dục lý luận số 269+270, tr.28-33.
9. Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, tr.192-193.

Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài "Phát triển năng lực tư duy lý luận và kỹ năng tư duy logic của cán bộ, công chức cấp huyện ở Việt Nam hiện nay" của Học viện Chính trị khu vực 1, do PGS.TS Trương Quốc Chính làm chủ nhiệm đề tài.

PGS. TS. Trương Quốc Chính
Theo Tạp chí Tri thức Xanh số 77-21

Bình luận: 0