TẠP CHÍ TRI THỨC XANH - CƠ QUAN LÝ LUẬN CỦA VIỆN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

E-mail:info@ttxonline.vn -  Hotline: 0948565689
thứ ba, 24/05/2022

Những điểm đột phá trong “chiến lược chính sách tài chính đến năm 2030”

16:23 10/05/2022
Logo header Trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội quốc tế và trong nước có nhiều biến đổi, yêu cầu đặt ra với chính sách tài chính quốc gia đó là phải giữ vai trò tiên phong trong việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước. Ngành tài chính phải là ngành dẫn dắt các nguồn lực xã hội nhằm đạt được các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn

1. Vai trò của chính sách tài chính với sự phát triển đất nước
Trên thực tế, trong điều kiện bình thường, chính sách tài chính được Nhà nước sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế. Trong những trường hợp đặc biệt khi mà nền kinh tế rơi vào bất ổn, suy thoái hoặc kinh tế phát triển quá nhanh đi trước sự phát triển của hạ tầng xã hội, chính sách tài chính sẽ là công cụ để đưa nền kinh tế trở lại trạng thái cân bằng, ổn định.  Ngoài ra, chính sách tài chính cũng giúp khắc phục những thất bại của thị trường thông qua việc phân bổ lại các nguồn lực kinh tế nhờ vào các chính sách chi tiêu công và thu thuế, góp phần quan trọng vào việc củng cố các cân đối lớn, ổn định kinh tế vĩ mô, điều chỉnh phân phối và tái phân phối tổng sản phẩm quốc dân. 
Các chính sách tài chính, ngoài đáp ứng yêu cầu của từ nền kinh tế cũng phải thực hiện vai trò vĩ mô đó là đảm bảo sự an toàn và bền vững của nguồn lực tài chính quốc gia, bảo đảm cho tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, ngân sách phát triển bền vững, ổn định, giảm nợ công…Để thực hiện các mục tiêu trên cần nâng cao chất lượng thể chế tài chính theo hướng đồng bộ, minh bạch và hội nhập; tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho phát triển nhanh, bền vững. 
Ngày 18/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 450/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính đến năm 2020, hướng tới mục tiêu xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính- ngân sách nhà nước, tạo điều kiện huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội. Sau hơn 10 năm thực hiện Chiến lược đã đạt được những kết quả như:  thể chế tài chính -ngân sách nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, đảm bảo các yêu cầu hội nhập và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt; Tiềm lực tài chính - ngân sách nhà nước được tăng cường; phân bổ và sử dụng nguồn lực từ ngân sách nhà nước ngày càng hiệu quả; An ninh, an toàn tài chính quốc gia được đảm bảo;… Huy động tổng hợp các nguồn lực trong và ngoài nước đảm bảo đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 bằng 33,7% GDP, đạt mục tiêu (32-34% GDP) và cao hơn giai đoạn 2011-2025 (31,7% GDP). Chính sách thuế, phí đã được rà soát, hoàn thiện cùng với việc đẩy mạnh và hiện đại hóa công tác quản lý thu ngân sách nhà nước. Nhờ đó, tiềm lực tài chính nhà nước ngày càng được tăng cường, thu ngân sách nhà nước hàng năm vượt dự toán, quy mô ngày càng tăng, giai đoạn 2011 - 2020 cao gấp 3,8 lần so với giai đoạn 2001 - 2010. Tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân giai đoạn 2011 - 2020 đạt khoảng 24,7% GDP. Cơ cấu thu ngân sách bền vững hơn, tỷ trọng thu nội địa ngày càng cao trong tổng thu NSNN. Tỷ trọng thu nội địa tăng từ mức bình quân 68,7% giai đoạn 2011-2015 lên 82% giai đoạn 2016-2020, đến năm 2020 đạt 85,6%. 
Ngày 21 tháng 3 năm 2022, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã ký Quyết định số 368/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2030. Tại Chiến lược này, Chính phủ xác định 3 đột phá chiến lược tài chính đồng thời cũng nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của nền tài chính quốc gia, đưa ra những giải pháp thực hiện của chiến lược đó.
2. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược Tài chính đến năm 2030
Quan điểm 
Việc xây dựng và thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2030 được thể hiện qua những quan điểm chủ đạo sau:
- Chính sách tài chính quốc gia đóng vai trò tiên phong trong việc huy động, giải phóng, định hướng phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước vào các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tầng trường trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Cải cách, nâng cao chất lượng thể chế tài chính theo hướng đồng bộ, minh bạch và hội nhập là điều kiện tiên quyết thúc đẩy nền tài chính quốc gia phát triển lành mạnh; sử dụng đồng bộ, hiệu quả các công cụ của chính sách tài khóa, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách khác trong việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển nhanh, bền vững; đồng thời, coi trọng việc phát triển đồng bộ, hài hòa các loại thị trường, các khu vực kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; phát triển kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
- Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công phải đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và tính chủ động của ngân sách địa phương; nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước để dẫn dắt, kích hoạt các nguồn lực khác; phát huy tối đa lợi thế của các vùng, miền; cân đối nguồn lực phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội và bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Quản lý tài chính bằng pháp luật, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính; nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và nền tảng tài chính số, tiếp tục hiện, đại hóa ngành tài chính.
Mục tiêu
“Chiến lược tài chính đến năm 2030” đề ra mục tiêu khái quát  hướng đến xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập , góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia. 
Thực hiện chính sách động viên hợp lý, cải thiện dư địa tài khóa, tạo điều kiện thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, giải quyết hài hòa các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng và an sinh xã hội gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030. 
Nhiệm vụ cụ thể
Để đạt được những mục tiêu trên, Quyết định đưa ra những nhiệm vụ cụ thể cần phải thực hiện để đề ra định hướng, giải pháp cho từng lĩnh vực.  
 Một là, Đảm bảo nguồn lực tài chính ngân sách góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025 bình quân không thấp hơn 16% GDP và giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 16-17% GDP. Trong đó, tỷ lệ huy động từ thuế, phí giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 13 - 14% GDP và giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 14 - 15% GDP. Tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước đến năm 2025 khoảng 85 - 86%, đến năm 2030 khoảng 86 - 87%.
Hai là, Quản lý chi ngân sách nhà nước hiệu quả; tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng bền vững; ưu tiên chi đầu tư phát triển và đảm bảo nguồn lực cho chi trả nợ, tăng cường nguồn lực ngân sách nhà nước cho dự trữ quốc gia, tăng chi đầu tư phát triển con người và bảo đảm an sinh xã hội.
Giai đoạn 2021 - 2025, tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước bình quân khoảng 62 - 63%, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách nhà nước bình quân khoảng 28%. Trong tổ chức thực hiện, phấn đấu tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển đạt khoảng 29%, giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống khoảng 60%. Giai đoạn 2026 - 2030, tiếp tục tiết kiệm chi thường xuyên, tăng tích lũy từ ngân sách nhà nước cho chi đầu tư phát triển.
Giai đoạn 2021 - 2030, ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước để tăng cường tiềm lực dự trữ quốc gia, phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước để sẵn sàng ứng phó nhanh, hiệu quả trong các tình huống đột xuất, cấp bách và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.
Ba là, Giảm dần bội chi ngân sách nhà nước; quản lý nợ công chặt chẽ, đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia; 
Phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi, giảm bội chi ngân sách nhà nước để đạt được chỉ tiêu bội chi ngân sách trong Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm 2021 - 2025 bình quân khoảng 3,7% GDP; đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP. Trường hợp có biến động, rủi ro lớn, Bộ Tài chính kịp thời báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, trần nợ công hàng năm không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.
Bốn là, Phát triển đồng bộ, minh bạch và bền vững thị trường tài chính và dịch vụ tài chính 
- Phát triển thị trường chứng khoán ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả, có cơ cấu hợp lý, cân đối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn, giữa thị trường cổ phiếu với thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh. Đến năm 2025, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP; dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 47% GDP, trong đó dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 20% GDP. Đến năm 2030, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 58% GDP, trong đó, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP.
-  Phát triển toàn diện thị trường bảo hiểm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Doanh thu ngành bảo hiểm tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 là 15%/năm, đến năm 2025, quy mô đạt khoảng 3 - 3,3% GDP; tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 là 10%/năm, đến năm 2030 quy mô đạt khoảng 3,3 - 3,5% GDP.
     - Phát triển ổn định thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán; nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán. Đến năm 2025, đảm bảo 100% doanh nghiệp, đơn vị có quy mô lớn được kiểm toán báo cáo tài chính, không phân biệt loại hình hoạt động, hình thức sở hữu.
- Tăng cường tính minh bạch trong lĩnh vực thẩm định giá, từng bước nâng cao năng lực, chất lượng thẩm định giá.
Năm là, Đẩy nhanh việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công lập; thực hiện tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
- Hoàn thiện thể chế về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập; hoàn thành lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công đối với một số lĩnh vực cơ bản. Giai đoạn 2021 - 2025, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 - 2020. Giai đoạn 2026 - 2030, giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025.
-  Đến năm 2025, hoàn thành nhiệm vụ sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 2030, củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Sáu là, Đẩy mạnh thực hiện cơ chế quản lý, điều hành giá theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước
-Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức quản lý điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước; đẩy nhanh thực hiện giá thị trường đối với một số hàng hóa, dịch vụ công. Đến năm 2025, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về giá, đảm bảo kết nối dữ liệu đến các bộ, ngành, địa phương.
Bảy là, Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và nền tảng tài chính số, thực hiện hiện đại hóa nền tài chính quốc gia
- Xây dựng hệ thống thông tin quản lý thuế tích hợp công khai, minh bạch và hiệu quả.
     - Xây dựng Hải quan Việt Nam chính quy, hiện đại ngang tầm hải quan các nước phát triển trên thế giới; dẫn đầu trong thực hiện Chính phủ số với mô hình Hải quan số, Hải quan thông minh.
     - Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kế toán nhà nước số, góp phần hình thành Kho bạc số vào năm 2030.
 Đẩy mạnh hiện đại hóa ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hàng dự trữ quốc gia, quản lý giám sát thị trường chứng khoán theo hướng hiện đại, hiệu quả.
3.     Đột phá chiến lược tài chính đến năm 2030
- Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế tài chính đảm bảo tính đầy đủ, đồng bộ và hội nhập; thực hiện đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ ngân sách nhà nước để đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và tính chủ động của ngân sách địa phương; cơ cấu lại ngân sách nhà nước, phát triển thị trường tài chính hiện đại, minh bạch và bền vững.
- Đổi mới cơ chế, chính sách tài chính cho phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh hiện đại hóa, phát triển nền tảng tài chính số trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin gắn với chuyển đổi số.
- Khơi thông và phát huy tiềm lực tài chính cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; ưu tiên nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ về phục hồi và phát triển kinh tế.
4.    Giải pháp thực hiện
Trên cơ sở những quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên kết hợp bám sát tình hình thực tiễn Nghị quyết đưa ra những giải pháp thực hiện “chiến lược tài chính đến năm 2030”:
     Hoàn thiện chính sách huy động các nguồn lực tài chính quốc gia, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách nhà nước
+ Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thu ngân sách nhà nước đồng bộ, có cơ cấu bền vững, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước, góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển kinh tế
+ Tăng cường huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước
+ Tăng cường công tác quản lý thu ngân sách nhà nước và quản lý hải quan
Nâng cao hiệu quả phân bổ, quân lý và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với việc thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững
+ Nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
+ Đẩy mạnh việc quản lý, điều hành tài chính ngân sách theo trung hạn
+ Đổi mới cơ chế phân cấp ngân sách nhà nước
+ Tiếp tục cải cách công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước và quản lý ngân quỹ
+ Thực hiện quản lý chặt chẽ tài sản công
+ Tăng cường tiềm lực dự trữ quốc gia
Quản lý chặt chẽ, hiệu quả bội chi ngân sách nhà nước, nợ công; cải thiện dư địa tài khóa, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền tài chính quốc gia
+ Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý nợ công
+ Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển với chi phí - rủi ro hợp lý; cải thiện cơ cấu danh mục nợ
+ Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay, gắn với trách nhiệm trả nợ
Đổi mới cơ chế tài chính đối với khu vực sự nghiệp công lập
+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với đơn vị sự nghiệp công lập
+Đẩy mạnh thực hiện cơ chế và giao tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công lập
+ Thúc đẩy xã hội hóa cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
Đẩy mạnh việc cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; đổi mới quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước. 
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.
     + Đẩy nhanh việc xử lý nợ, thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiệu quả, công khai, minh bạch; 
+ Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn tại doanh nghiệp. 
+  Củng cố, hoàn thiện mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu theo đúng vai trò quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới, cơ cấu lại của các doanh nghiệp nhà nước. 
Phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát triển đồng bộ, hiện đại, minh bạch và bền vững thị trường tài chính, trọng tâm là thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm và thị trường các dịch vụ tài chính.
+ Thị trường chứng khoán: Hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển thị trường chứng khoán phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, tiếp cận với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế; Tăng cung hàng hóa và cải thiện chất lượng nguồn cung cho thị trường; Phát triển và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư; Hoàn thiện tổ chức thị trường, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin. 
+ Thị trường bảo hiểm: Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm; Phát triển sản phẩm và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm; Tăng cường năng lực tài chính, quản lý rủi ro, quản trị doanh nghiệp và công khai minh bạch của doanh nghiệp bảo hiểm; Ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh bảo hiểm; Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm.
+ Thị trường dịch vụ tài chính: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán, thẩm định giá và các dịch vụ tài chính khác theo hướng tiếp cận với thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện của Việt Nam; Nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán, thẩm định giá và các dịch vụ tài chính khác; Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dịch vụ tài chính.
+ Thị trường xổ số và trò chơi có thưởng: Hoàn thiện khung pháp lý đối với lĩnh vực xổ số và trò chơi có thưởng; từng bước tái cơ cấu thị trường theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; sử dụng nguồn thu từ xổ số và trò chơi có thưởng để đầu tư phát triển xã hội.
Thực hiện nhất quán công tác quản lý, điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
+ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật về giá, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật Giá và hệ thống pháp luật dân sự kinh tế. 
|+  Đẩy nhanh việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với các dịch vụ quan trọng, thiết yếu và các dịch vụ sự nghiệp công;
+  Đẩy mạnh công tác tổng hợp, phân tích, dự báo; Hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về giá.
Tăng cường hiệu quả hợp tác tài chính và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính
+ Tăng cường hiệu quả hợp tác tài chính
+ Chủ động hội nhập quốc tế về tài chính
Tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý, giám sát tài chính; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
+ Hoàn thiện thể chế, bộ máy, công cụ phân tích, giám sát các cân đối tài chính lớn; . Phát triển hệ thống thông tin thống kê tài chính tập trung.
+ Hoàn thiện thể chế, bộ máy, hạ tầng, công cụ giám sát các hoạt động của thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; Tăng cường kiểm soát đối với lĩnh vực xổ số và trò chơi có thưởng.
+ Hoàn thiện cơ chế và hệ thống các tiêu chí giám sát tài chính doanh nghiệp; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy và cán bộ quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp. 
+ Nâng cao năng lực, chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra tài chính trong tất cả các lĩnh vực.
+ Kiểm soát các yếu tố hình thành giá, các phương án giá của các hàng hóa, dịch vụ độc quyền, hàng hóa thuộc danh mục Nhà nước định giá; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá; hàng hóa, dịch vụ công ích.
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giá kết hợp với quản lý thuế.
+ Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. 
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập nền tảng tài chính số; cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
+ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thiết lập nền tảng tài chính số, phù hợp yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
+Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiện toàn bộ máy ngành Tài chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả
+Kiện toàn bộ máy ngành Tài chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả
+  Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực


Nhung Trần- Ngọc Toại

Theo Tạp chí Tri thức Xanh số 160 - 04/2022

Tags
Bình luận: 0